BÊNH LỴ TRỰC TRÙNG DO SHIGELLA

0

Hoa Kỳ

Ở Hoa Kỳ từ năm 1968 đến năm 1998 có 352.430 ca nhiễm Shigella được xác định và báo cáo lên Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ qua một hệ thống giám sát thụ động. S.sonnei chiếm tới 73%, s.flexneri chiếm 21%, S.dysenteriae chiếm 0,9%, s.boydii chiếm 1,5% và nhóm không xác định được là 3,5%. Thông qua một cơ chế giám sát chủ động, tỷ lệ mắc trung bình bệnh ly trực trùng hàng năm trong khoảng thời gian từ nàm 1996 đến năm 2000 là 8,3 ca trên 100.000 người.

Trong sô’ 2192 chủng Shigella phân lập được báo cáo, 85% là S.sonnei và 13% là s.flexneri. Tỷ lệ chung thường cao hơn ở nhóm trẻ em từ 1-9 tuổi (29,4 ca/100.000 người), ở nam giới (9,4 ca/100.000 người), người da đen (19 ca/100.000 người), người Mỹ gốc Latin (16,4 ca/100.000 ngưòi) và người Mỹ bản xứ (12,4 ca/100.000 người).

Ở Hoa Kỳ, các nhóm có nguy cơ cao đối với bệnh lỵ trực trùng là trẻ em ở nhà trẻ và tù nhân ỏ các trại giam, đây là những nơi khó đảm bảo được vệ sinh cá nhân, nhrvng người Mỹ bản xứ, người Do Thái chính thống, khách du lịch quốc tê’ kể cả các quân nhân Mỹ hiện đang đóng quân ở nước ngoài, những người đồng tính luyến ái nam, và những người sông trong các gia đình không có nước sạch để rửa tay.

Các vụ dịch đôi khi do thức ăn hoặc nước uống bị nhiễm bẩn gây ra. Các vật truyền có nguồn gốc thức ăn bao gồm rau xà lách thái nhỏ và sốt đậu được phân phối trên thị trường, rau mùi nhập khẩu, và cà chua. Các vụ dịch do lây lan qua đường nước, ví dụ như các vụ dịch liên quan đến vòi phun nước, bể bơi và ao hồ cũng đã được miêu tả.

benh-ly-truc-trung-shigella-1.jpg

Lỵ trực trùng thường mắc ở trẻ em

Nhà trẻ

Các nghiên cửu bệnh – chứng đã chứng minh rằng trẻ em được chăm sóc ở các nhà trẻ có nguy cơ mắc bệnh lỵ trực trùng cao hơn so với cốc trẻ em ở nhóm chứng cùng tuổi sông ỏ nhà. Trong một vụ dịch do S.sonnei ở cộng đồng, nhóm huyết thanh này phổ biến nhâ’t ở các trường học và nhà trẻ. Trẻ em dưới 6 tuổi có đi nhà trẻ có nguy cơ mắc bệnh lỵ trực trùng cao gấp 2,4 lần so với trẻ em ở lưa tuổi dó song không di nhà trẻ. Tỷ lệ tái phát khá cao ở các gia đình có trẻ em đi nhà trẻ bị mắc bệnh lỵ trực trừng.

Người Do Thái chính thống

Các vụ dịch liên tiểu bang bùng phát trong các cộng Ê đồng người Do Thái chính thông đã nhiều lần được ghi V nhận ờ Hoa Kỳ. sử dụng phương pháp điện di xung (PFGE) cho thây một sô’ chủng liên quan mật thiết vói S.sonnei dược coi là tác nhân chính của hầu hết các ca bệnh xảy ra trong các cộng đổng người Do Thái chính thông o các thành phô’ khác nhau, trong khi đó một loạt các chủng khác được giải thích cho phần lốn các ca bệnh khác (không phải là người Do Thái) cũng xảy ra ỏ những thành phố này.

Người ta cũng đã ghi nhận cùng một chủng S.sonnei là tác nhân gây bệnh trong các vụ dịch xảy ra trong các cộng đồng người Do Thái chính thông ỏ Canada, Pháp và Israel. Động lực của sự lây truyền trong các cộng đồng này có thể liên quan đến việc tiếp xúc thường xuyên giữa trẻ em đi nhà trẻ và trẻ em ồ nhà, và cũng có thể có quan hệ với một số nghi thúc tôn giáo đặc biệt có liên quan đến vấn đe rửa tay.

benh-ly-truc-trung-shigella-2.jpg

Lỵ trực trùng thường gây bệnh ở khách du lịch

Khách du lịch quốc tế và quân nhân

Shigella có thể là một căn nguyên gây tiêu chảy ỏ khách du lịch, nhất là những người du hành từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển. Các ca nhiễm trùng mắc phải ỏ nước ngoài có thể chiếm tới 20% tổng 80 ca Shigellạ được báo cáo ỏ Hoa Kỷ. Trong Chiến dịch bào táp sa mạc, 57% binh lính Mỹ bị tiêu chảy và 20% báo cáo ràng họ không thế thực hiện được nhiệm vụ của mình. Shigella dược cây từ 26% các trường hợp tiêu chảy, trong dó có 81% là S.sonnei, 11% là s.flexneri, 7% là s.boydii, và 4% là S.dysenteriae.

Đồng tính luyến ái nam

Các vụ dịch lỵ trực trùng ỏ dàn ông đồng tính luyến ái xảy ra là do nguy cơ liên quan đến tiếp xúc trực tiếp qua đường miệng – hậu môn. Cho tói gần đây, nhỏm huyết thanh chính gây bệnh ỏ đàn ông có tình dục đồng tính là s.flexneri. Tuy nhiên, từ năm 2000, người ta đã phát hiện thấy xu hương gia tăng các ca nhiễm S.sonnei trong sấđàn ông có tình dục cùng giới ỏ Hoa Kỳ và Canada.

Dịch tễ học phân tử

Các phương pháp xác dịnh nhóm huyết thanh và typ huyết thanh, các thông tin về tính kháng kháng sinh, phân loại phage, phân loại colicin, và điện di xung (PFGE) đều được sừ dụng trong các nghiên cứu dịch tễ học. ở Hoa Kỳ, các phương pháp phòng thí nghiệm hữu hiệu nhất thường được sử dụng cho các hoạt động giám sát và các đợt điều tra dịch là xác định nhóm và typ huyết thanh, các thông tin về tính khống thuốc và PFGE.

Xem thêm: Sung chữa đau dạ dày bạn đã biết chưa?

Bạn sẽ nhanh chóng quên đi cảm giác khó chịu của căn bệnh ” DẠ DÀY ” ngay từ hôm nay.

Hotline 24/24: 083.693.6519  để được giải đáp thắc mắc.

Hoặc để lại SĐT tại đây, chúng tôi sẽ gọi lại cho bạn NGAY!

Share.

Leave A Reply