Một số biến chứng hiếm gặp và chẩn đoán

0

Viêm khớp phản ứng

Những di chứng toàn thân khác bao gồm viêm khớp, một di chúng được miêu tả lần đầu tiên trong một vụ dịch xảy ra trong quân đội Phần Lan nàm 1944. Trong I số bốn nhóm huyết thanh của Shigella, chỉ có s.flexneri thường dược coi là tác nhân. Viêm khớp phản ứng có thể xuất hiện đơn lẻ hoặc cùng với viêm mạc treo và viêm niệu đạo, tam chứng này được biết đến với cái tên hội chứng Reiter.

Chứng viêm khớp này là loại viêm vô trùng, thưòng không đối xứng và liên quan dến nhũng khớp xương lốn ở chân. Chứng viêm khỏp thường phát triển 2-3 tuần sau khi bệnh viêm dọ dày ruột khỏi phát, bất kể bệnh có được diều trị bằng kháng sinh hay không, và thưòng kéo dài không quố 6 tháng. Khoảng 70% số bệnh nhân bị viêm khớp có HLA-B27 dương tính. Người ta vẫn chưa biết được cơ chố chính xác của chứng viêm khớp phàn ứng song có thể liên quan đến sự giông nhau về mật phán tử (moleculnr mimicry).

mot-so-bien-chung-hiem-gap-va-chan-doan-1

Hội chứng tan máu ure

Hội chứng tan máu urê huyết

Mặc dù không phổ biến, biến chứng toàn thân nặng nhất cùa bệnh lỵ trực trùng là hội chứng tan máu urê huyết (HUS), một bệnh mao mạch huyết khối (thrombotic microangiophathy) được biểu hiện bằng thiếu máu tan máu. suy thận thiểu niệu và giảm tiểu cầu. HUS có liên

Chậm tăng trưởng

Những trẻ em ồ Bangladesh được chẩn đoán bị bệnh kiết lỵ đều bị còi cọc chậm lốn do mất nhiều protein huyết thanh trong quá trình mắc bệnh.

Mang mầm bênh man tính

Mang mầm bệnh lâu dài quá bôn đến sáu tuần thường không phổ biến ỏ những người khỏe mạnh, tuy nhiên cũng đã có báo cáo về trường hợp mang mầm bệnh trong hơn một năm.

Bảng 6.2: Các biến chứng liên quan với nhiễm khuẩn Shigella

Đường ruột        Toàn thân

Viêm hậu môn  Nhiễm trùng huyết

Sa trực tràng      Rối loạn trao đổi chất (tiêu dịch, giảm natri huyết, giảm glucose huyết)

1 Tắc ruột            Phản ứng bạch cầu

Phình trực tràng nhiễm độc         Biến chứng thần kinh (co giật, viêm não)

Thủng đại tràng Viêm khớp phản ứng

Ị Tiêu chảy sau lỵ trực trùng         Hội chứng tan máu urê huyết (HUS)

Chậm tăng trưởng

mot-so-bien-chung-hiem-gap-va-chan-doan-2.jpg

Thủng đại tràng

 CHẨN ĐOÁN

Bệnh nhân bị nhiễm Shigella bị đi ngoài ra máu thường xuyên, lượng phân ít, có đau bụng, và có cảm giác mót rặn, đặc biệt là những người có kèm theo sốt. Buồn nón và nôn thường là những triệu chứng không phố’ biến. Sự hiện diện của bạch cầu trong phân là một dấu hiệu rất tốt để chan đoán bệnh tiêu chảy có phải do vi khuẩn gây ra hay không. Các bệnh nhân nhiễm Shigella cấp tính có bạch cầu đa nhân xuất hiện trong phân tới 70-100% lần bị nhiễm, với ít nhất 10 đến 25 tế bào trên một vi trường. Cần chẩn đoán phân biệt vối một sô tác nhân gây bệnh khác như amíp, Salmonella, Campylobacter, Yersinia, E.coli xâm nhập.

Ở nhiều địa phương, khả năng xét nghiệm Shigella vẫn chưa phát triển và do đó việc chẩn đoán thường dựa trên các triệu chứng lâm sàng. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thây cả trẻ em và người lớn tỷ lệ mác lỵ trực trùng do Shigella nhiểu hơn là nhiễm amíp. Một sô’ bằng chứng gợi ý rằng các đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm phân ỏ người lớn bị bệnh ly do nhiễm amíp và Shigella khác nhau ở điểm các bệnh nhân bị nhiễm Shigella bị sất nhiều hơn, thời kỳ phát bệnh trước khi nhập viện ngán hơn và có nhiều bạch cầu trong phân hơn.

Xét nghiêm

Chẩn đoán xác định nhiễm Shigella thường được tiến hành bằng cấy phân. Việc phân lập được Shigella nói chung không khó khăn ở giai đoạn đầu của bệnh vì có thể đếm được tới 10® vi khuẩn sống được trên 1 gam phân. Sau vài ngày, sô’ vi khuẩn đếm được giảm xuống còn 102 vi khuẩn trên 1 gam phân.

Phân tươi hoặc tăm bông trực tràng có vệt phân rõ ràng phải được xét nghiệm ngay sau khi lây mẫu càng sớm càng tốt. Phân tươi thường được ưa dùng hơn vì lượng phân nhiều hơn. Các bệnh phẩm phân phải được cấy trong vòng vài giò nếu không phải dùng môi trường vận chuyển ví dụ như Cary Blair. Bệnh phẩm phải được thu thập trong giai đoạn cấp tính và trước khi bắt đầu tiến hành điều trị kháng sinh. Nếu bệnh phẩm có chửa máu và dịch nhày, các mẫu này cũng phải được thu thập. Không môi trường tăng sinh nào có thể làm tăng tốc độ phàn lập vi khuân cao hơn cấy bệnh phẩm trực tiếp trên đìa thạch.

Shigella (lược cấy tót nhất trên các môi trường chọn lọc như MacConkey, xylose-lysin deoxycholat (XLD), thạch deoycholat citrat agar (DCA), hoặc thạch Hektoen enteric agar (HEA). Không nên dùng thạch Salmonella- Shigella (SS) vì nó hạn chế sự sinh trưỏng của một sấ chủng S.dysenteriae typ 1. Sau khi ủ qua đêm, Shigella xuất hiện dưới dạng các khuẩn lạc không màu, không lên men lactose trên môi trường MacConkey, và các khuẩn lạc màu hồng trên môi trường XLD. Bước tiếp theo là chích các khuẩn lạc này cấy trên thạch triple sugar iron

Một số phương pháp chẩn đoán Shigella mới được phát triển. Các phương pháp này bao gồm nhuộm kháng thê huỳnh quang đối vối S.dysenteriae typ 1, phân lập miễn dịch từ tính và phản ứng khuếch đại gen (PCR) hoặc các kháng thể đơn dòng để xác định S.dysenteriae typ 1 hoặc S.Ịlexneri, hoặc DNA-probe có gắn enzym để xác dịnh dộc lực đặc hiệu đối với Shigella. Không có một phương pháp chẩn đoán nhanh đáng tin cậy nào dối với Shigella có sẵn trên thị trường. Ngoại lệ duy nhất là phép thử miễn dịch enzym đối với độc tố Shiga có thể dùng trực tiếp để xét nghiệm phán và chỉ ra sự có mặt CÙỀ vi khuân linh 171 dộc tố ShÌRíi; Skigeỉla dysenteriot ỊV-Ị, 1 cùng cỏ thí dược phốt hiện bÀng phép thử nãy. tuy nhiên tất cẩ cấc chùng Shigtìlla khốc sẽ bj bỏ gót.

Xem thêm: Đông y chữa đau dạ dày như thế nào?

Bạn sẽ nhanh chóng quên đi cảm giác khó chịu của căn bệnh ” DẠ DÀY ” ngay từ hôm nay.

Hotline 24/24: 083.693.6519  để được giải đáp thắc mắc.

Hoặc để lại SĐT tại đây, chúng tôi sẽ gọi lại cho bạn NGAY!

Share.

Leave A Reply